- Bài 1 : Mạng và Mô hình tham chiếu
- Bài 2 : Chi tiết các lớp trong Mô hình tham chiếu – Application và Transport
- Bài 3 : Chi tiết các lớp trong Mô hình tham chiếu – Network
- Bài 4 : Chi tiết các lớp trong Mô hình tham chiếu – Data Link và Physical
- Bài 5 : Giới thiệu về Router
- Bài 6 : Nguyên lý hoạt động của Switch
- Bài 7 : Định tuyến tĩnh
1. Khái niệm về định tuyến
Để nắm được khái niệm về định tuyến (routing) cũng như một số khái niệm cơ bản khác thuộc về chủ đề này, chúng ta cùng quan sát một ví dụ (hình 1):

Hình 1. Một ví dụ về định tuyến
Trong ví dụ của hình 1, Host1 thuộc mạng 192.168.1.0/24 với địa chỉ IP 192.168.1.10 cần gửi dữ liệu đến Host2 thuộc mạng 192.168.3.0/24 có địa chỉ IP là 192.168.3.10. Như chúng ta đã biết, Host1 sẽ thực hiện đóng gói dữ liệu cần gửi vào các gói IP với địa chỉ source là 192.168.1.10 và địa chỉ destination là 192.168.3.10 rồi tiến hành gửi đi các gói IP này.
Trong trường hợp thông thường, các host đầu cuối thuộc một mạng LAN chỉ có thể trao đổi dữ liệu với các host khác cùng mạng với mình. Để gửi được dữ liệu đến một host khác bên ngoài mạng, host gửi bắt buộc phải “nhờ cậy” đến một thiết bị đặc biệt đóng vai trò là “cửa ngõ” để đi ra khỏi mạng của nó; thiết bị này thường là một router và được gọi là Default – gateway. Trong ví dụ ở hình 1, ta có router R1 chính là default – gateway của mạng LAN 192.168.1.0/24 và router R3 là default – gateway của mạng LAN 192.168.3.0/24. Trên tất cả các host, bên cạnh địa chỉ IP và subnet – mask được cấu hình trên card mạng, người quản trị còn phải khai báo thêm địa chỉ của default – gateway cho card mạng của các host này. Trong ví dụ ở hình 1, tất cả các host thuộc về mạng 192.168.1.0/24 sẽ phải được cấu hình thiết lập default – gateway là 192.168.1.1 – là địa chỉ trên cổng LAN F0/0 của router R1, và tất cả các host thuộc mạng 192.168.3.0/24 sẽ được cấu hình default – gateway là 192.168.3.1 – là địa chỉ trên cổng LAN F0/1 của R3.
Trở lại việc Host1 muốn gửi dữ liệu cho Host2 đã nêu ở trên, vì Host1 thấy rằng các gói tin chứa dữ liệu cần gửi có destination IP thuộc về một mạng khác với mạng của mình, Host1 sẽ không tự xử lý các gói này mà thực hiện đẩy chúng lên default – gateway R1 (tại địa chỉ 192.168.1.1) để router này xử lý. Tại đây, các gói tin sẽ được router R1 thực hiện dẫn đường để có thể tiếp tục di chuyển đến đích của chúng. Để có thể dẫn đường được cho các gói tin, một router phải dựa vào một công cụ gọi là Bảng định tuyến (Routing table). Đây là một bảng dữ liệu được lưu trên bộ nhớ RAM của router; bảng này lưu trữ thông tin về mọi địa chỉ mạng (network address) của topo mạng mà router có tham gia trong đó, cùng với hướng đi tối ưu để đi đến các địa chỉ mạng này. Nguyên tắc của hoạt động dẫn đường dữ liệu dựa vào bảng định tuyến bao gồm các bước như sau:
- Router sẽ kiểm tra bảng định tuyến xem trong đó có lưu thông tin gì về địa chỉ IP đích (destination IP) của gói tin mà nó thực hiện dẫn đường hay không. Chính xác hơn, router sẽ xem thử bảng định tuyến của nó có thông tin về địa chỉ mạng mà có chứa địa chỉ đích này hay không.
- Nếu trong bảng định tuyến có lưu thông tin về mạng đích, nó sẽ phải xem xét tiếp là thông tin được lưu này chỉ ra hướng đi tốt nhất để đi đến mạng đích là hướng nào; sau đó, khi đã xác định được hướng đi, router sẽ thực hiện chuyển dữ liệu từ cổng vào (input interface) sang cổng ra (output interface) phù hợp.
- Ngược lại, nếu router không lưu thông tin về bất kỳ mạng nào có chứa địa chỉ IP đích của gói tin trong bảng định tuyến, router sẽ loại bỏ gói tin và gửi một thông báo về cho source của gói tin biết rằng nó đã loại bỏ gói tin vì không biết cách dẫn đường đi cho gói tin này.
Giả sử rằng, trong ví dụ đang xem xét, bảng định tuyến của các router trên sơ đồ đã được cập nhật đầy đủ như trên hình 2:

Hình 2. Các router dẫn đường dữ liệu đi đến Host2 dựa vào bảng định tuyến
Như ta thấy, khi đã được cập nhật đầy đủ, bảng định tuyến của mỗi router đều lưu thông tin về tất cả các network address hiện có trên sơ đồ mạng kèm theo cổng ra (output interface) phù hợp để đi đến các mạng ấy. Ví dụ: bảng định tuyến của R1 có chỉ rõ là để đi đến được mạng 192.168.23.0/24 thì cần phải đi ra khỏi router theo cổng F0/1; hay để đi đến mạng 192.168.1.0/24 thì cần phải đi ra khỏi router theo cổng F0/0.
Khi router R1 nhận được gói tin IP với đích đến 192.168.3.10 được gửi đến từ Host1, R1 thực hiện tra cứu bảng định tuyến và thấy rằng, có một network 192.168.3.0/24 là có chứa địa chỉ này và để đi đến network này, R1 cần phải chuyển gói đi tiếp theo cổng F0/1; R1 thực hiện chuyển gói IP đã nhận được từ input interface F0/0 sang output interface F0/1.
Sau khi đi ra khỏi router R1, gói tin này sẽ đi đến router R2; R2 lại tiếp tục thực hiện hoạt động tra cứu bảng định tuyến giống như trên cho gói tin và xác định được rằng có một mạng 192.168.3.0/24 được lưu trong bảng định tuyến chứa địa chỉ đích của gói tin, và để đi đến mạng này, R2 cần phải chuyển gói ra khỏi cổng F0/1 của nó. Gói tin được R1 chuyển từ cổng vào F0/0 sang cổng ra F0/1. Khi đi ra khỏi cổng F0/1 của R2, gói tin sẽ di chuyển tiếp đến router R3.
Tại R3, kết quả tra cứu định tuyến chỉ ra rằng, cần phải chuyển tiếp gói tin sang cổng F0/1, vì mạng 192.168.3.0/24 nằm ở phía cổng này. Gói tin được R3 chuyển sang cổng F0/1 và từ đó đi đến host 192.168.3.10 thuộc mạng 192.168.3.0/24, kết thúc hành trình của nó.
Như vậy mấu chốt trong hoạt động dẫn đường của một router cho các gói tin IP là bảng định tuyến của nó phải có đầy đủ thông tin về các địa chỉ mạng trên hệ thống, để từ đó có thể dẫn đường cho các gói tin đi đến được các mạng này. Tuy nhiên, vào thời điểm ban đầu, bảng định tuyến của các router sẽ không có đầy đủ thông tin như vậy. Chúng ta cùng xem xét lại ví dụ trên, nhưng ở thời điểm ban đầu, khi các router chưa có được thông tin về các địa chỉ mạng trên topology của chúng (hình 3).

Hình 3. Bảng định tuyến ban đầu của các router
Ở thời điểm ban đầu này, các router sẽ chỉ có thông tin về các mạng nằm trên các cổng của chúng; các router không hề có thông tin về các mạng nằm trên các đường link thuộc về các router khác.
Cụ thể:
- Bảng định tuyến của router R1 ban đầu sẽ chỉ có thông tin về hai mạng 192.168.1.0/24 và 192.168.12.0/24 nằm trên hai cổng F0/0 và F0/1 của chính nó.
- Bảng định tuyến của router R2 ban đầu sẽ chỉ có thông tin về hai mạng 192.168.12.0/24 và 192.168.23.0/24 nằm trên hai cổng F0/0 và F0/1 của chính nó.
- Bảng định tuyến của router R3 ban đầu sẽ chỉ có thông tin về hai mạng 192.168.23.0/24 và 192.168.3.0/24 nằm trên hai cổng F0/0 và F0/1 của chính nó.
Ta thấy rằng vì chỉ có thông tin về những mạng nằm trên chính bản thân chúng (được gọi là các mạng connected – kết nối trực tiếp), các router lúc này chưa thể dẫn đường được cho các gói tin đến các mạng nằm trên các router khác. Lúc này, nếu R1 nhận được các gói tin do Host1 gửi đến như đã nêu ở trên, R1 sẽ drop bỏ hết các gói này vì R1 hiện không có thông tin về bất kỳ mạng nào có chứa địa chỉ IP đích 192.168.3.10.
Như vậy, để có thể thực hiện chức năng dẫn đường, các router cần phải được cập nhật thêm thông tin về các địa chỉ mạng khác trên topology ngoài các mạng kết nối trực tiếp mà chúng đã biết. Trong ví dụ này, R1 cần phải được bổ sung thêm các địa chỉ mạng 192.168.23.0/24, 192.168.3.0/24 cùng với output interface F0/1 vào bảng định tuyến; R2 cần phải bổ sung thêm các địa chỉ 192.168.1.0/24 với output interface F0/0, 192.168.3.0/24 với output interface F0/1 vào bảng định tuyến; R3 cần phải bổ sung thêm các địa chỉ 192.168.1.0/24, 192.168.12.0/24 với output interface F0/0 vào bảng định tuyến.
Để có thể cập nhật đầy đủ thông tin vào bảng định tuyến của các router như vừa nêu, chúng ta có hai cách:
- Cách 1: Người quản trị tự tay điền các địa chỉ mạng còn thiếu vào bảng định tuyến của các router, đồng thời tự chỉ ra luôn hướng đi (output interface) mong muốn để đi đến các mạng này; router chỉ việc thực thi hoạt động dẫn đường theo những thông tin mà người quản trị đã điền vào. Phương pháp này được gọi là Định tuyến tĩnh (Static routing).
- Cách 2: Người quản trị không can thiệp, mà các router sẽ tự thực hiện trao đổi thông tin với nhau, tự cập nhật thông tin và tự tính toán đường đi đến mọi địa chỉ trên sơ đồ mạng. Tác vụ duy nhất mà người quản trị phải làm là cấu hình activate chức năng trao đổi tự động này lên. Phương pháp này được gọi là Định tuyến động (Dynamic routing). Với định tuyến động, các router phải chạy với nhau một loại giao thức được gọi là giao thức định tuyến (routing protocol).
Như vậy, ta có khái niệm định tuyến (routing) là hoạt động cập nhật thông tin về các địa chỉ mạng cùng với hướng đi thích hợp vào bảng định tuyến của các router để từ đó chúng có thể dẫn đường các gói tin IP đi đến được các host thuộc về các mạng này. Có hai phương pháp định tuyến là định tuyến tĩnh – static routing và định tuyến động – dynamic routing.
Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về phương pháp định tuyến tĩnh ngay trong chương này. Phương pháp định tuyến động sẽ được trình bày trong chương sau của giáo trình.
2. Định tuyến tĩnh – Static routing
Định tuyến tĩnh là phương pháp định tuyến trong đó người quản trị sẽ tự tay điền các địa chỉ mạng còn thiếu vào trong bảng định tuyến của router, đồng thời chỉ ra hướng đi tối ưu đến các mạng này. Với Cisco IOS, câu lệnh để người quản trị thực hiện tác vụ định tuyến tĩnh có định dạng như sau:
| Router(config)# ip route destination_network subnet_mask {output_interface | next_hop_IP} |
Trong đó:
- destination_network: địa chỉ mạng đích mà người quản trị muốn ghi vào trong bảng định tuyến của router.
- subnet_mask: subnet – mask của mạng đích.
- output_interface: cổng đi ra khỏi router để tiếp tục đi đến mạng đích.
- next_hop_IP: địa chỉ IP của router kế tiếp trên đường đi đến đích.
Để nắm được phương pháp cấu hình định tuyến tĩnh, chúng ta sẽ cùng khảo sát cách thức cấu hình định tuyến tĩnh trên một ví dụ, chính là ví dụ được nêu ra trong hình 1 ở trên. Ba router R1, R2 và R3 sẽ được cấu hình static routing đảm bảo hai host Host1 và Host2 thuộc 2 mạng 192.168.1.0/24 và 192.168.3.0/24 có thể trao đổi được dữ liệu với nhau. Ngoài ra, chúng ta cũng thực hiện cập nhật đầy đủ thông tin định tuyến vào bảng định tuyến của các router này như được chỉ ra trên hình 2 ở trên.
Để tiện theo dõi, sơ đồ mạng ở hình 1 được trình bày lại trong hình 4 dưới đây:

Hình 4. Sơ đồ ví dụ cấu hình định tuyến tĩnh
Trước hết, chúng ta quan sát bảng định tuyến của các router để thấy rằng tại thời điểm đầu tiên, các router chỉ có thông tin về các mạng kết nối trực tiếp với chúng. Với Cisco IOS, câu lệnh được sử dụng để hiển thị nội dung bảng định tuyến của router là “Router# show ip route”.
R1# show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 R2# show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 R3# show ip route (…) C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 |
Ký hiệu “C” đặt trước các địa chỉ mạng chính là chỉ báo đây là các mạng “connected”, kết nối trực tiếp trên các cổng của router đang xét. Ta thấy, ngoài các mạng trên chính bản thân mình, các router hiện chưa có thông tin về bất kỳ mạng nào khác trên sơ đồ mạng.
Để router R1 dẫn đường được cho các gói tin đi đến địa chỉ 192.168.3.10 của mạng 192.168.3.0/24, ta cần bổ sung thông tin về mạng này vào bảng định tuyến của R1, đồng thời chỉ ra hướng đi thích hợp. Quan sát sơ đồ mạng, ta thấy rằng, từ R1, để đi đến được mạng 192.168.3.0/24, cần phải chuyển các gói tin đi tiếp theo cổng ra (output interface) là F0/1. Ta cấu hình trên R1 để thể hiện điều này:
R1(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 f0/1 | | Destination network Output interface |
R1#show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 |
Như vậy, thông tin về mạng 192.168.3.0/24 cùng với output interface thích hợp đã được đưa vào bảng định tuyến của R1. Lúc này, nếu R1 nhận được các gói tin đi đến địa chỉ 192.168.3.10, R1 đã có thể thực hiện dẫn đường được cho các gói tin. Ký hiệu “S” trước dòng thông tin về mạng 192.168.3.0/24 là một chỉ báo cho biết dòng thông tin này đã được đưa vào bảng định tuyến bằng phương thức static routing.
Khi đi ra khỏi cổng F0/1 của R1 để đi tiếp đến router R2, các gói tin với đích đến 192.168.3.10 sẽ được R2 thực hiện tra cứu bảng định tuyến để dẫn đường theo một ouput interface phù hợp. Tương tự như với R1, ta cũng cần phải bổ sung thêm thông tin 192.168.3.0/24 cho bảng định tuyến của R2 để R2 có thể thực hiện được thao tác dẫn đường này. Cấu hình static routing trên R2 cho mạng 192.168.3.0/24:
R2(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 f0/1 | | Destination network Output interface |
Dựa vào sơ đồ mạng, ta thấy rằng từ R2 để đi đến mạng 192.168.3.0/24, ta cần lái gói tin đi tiếp theo cổng F0/1 và cấu hình static route ở trên thể hiện điều này.
Ta kiểm tra xác nhận rằng thông tin về mạng 192.168.3.0/24 đã được cài đặt vào bảng định tuyến của R2:
R2#show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 S 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 |
Cuối cùng, vì R3 đã có sẵn thông tin về mạng 192.168.3.0/24 trong bảng định tuyến của nó nên ta không cần phải cấu hình gì thêm trên R3 cho hoạt động dẫn đường đến mạng này.
Lúc này Host1 đã có thể gửi đươc dữ liệu đến cho Host2. Tuy nhiên, việc trao đổi dữ liệu giữa các host thường diễn ra hai chiều, do đó, nếu Host1 gửi dữ liệu cho Host2 thì Host2 cũng sẽ gửi lại dữ liệu nào đó cho Host1. Dữ liệu Host2 gửi ngược lại cho Host1 sẽ được đóng gói vào các gói tin IP với source IP là 192.168.3.10 và destination IP là 192.168.1.10. Quá trình di chuyển ngược lại tương tự như đã trình bày ở trên: các gói trả về sẽ đi từ Host2 lên default – gateway của mạng 192.168.3.0/24 là router R3, R3 sẽ dẫn đường các gói này đến R2, R2 lại tiếp tục dẫn đường các gói đến R1 và cuối cùng R1 chuyển gói đến Host1. Để hoàn thành được chu trình này, các router cũng phải được cập nhật thông tin về mạng đích 192.168.1.0/24 trong bảng định tuyến của chúng. Ta thực hiện điều này bằng cách cấu hình static routing cho mạng 192.168.1.0/24 trên các router R2 và R3 (R1 đã có sẵn thông tin về mạng connected 192.168.1.0/24 nên không cần cấu hình thêm):
R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 f0/0 R3(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 f0/0 |
Bảng định tuyến của các router R2 và R3:
R2#show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 S 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 R3#show ip route (…) C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 |
Lúc này, hai host Host1 và Host2 đã có thể trao đổi được dữ liệu với nhau. Tiếp theo, ta thực hiện kiểm tra điều này bằng cách ping giữa Host1 và Host2.
Trước hết, ta thực hiện cấu hình địa chỉ IP và default – gateway trên Host1 và Host2. Nhắc lại rằng địa chỉ default – gateway của Host1 là địa chỉ trên cổng F0/0 của R1 (192.168.1.1) và địa chỉ default – gateway của Host2 là địa chỉ trên cổng F0/0 của R3 (192.168.3.1). Các thiêt lập IP trên card mạng của hai host được chỉ ra trên hình 5 và 6:

Hình 5. Cấu hình IP trên Host1

Hình 6. Cấu hình IP trên Host2
Host1 ping thành công Host2 cho thấy hai host đã có thể trao đổi dữ liệu với nhau:
C:\>ping 192.168.3.10 Pinging 192.168.3.10 with 32 bytes of data: Reply from 192.168.3.10: bytes=32 time=78ms TTL=253 Reply from 192.168.3.10: bytes=32 time=91ms TTL=253 Reply from 192.168.3.10: bytes=32 time=91ms TTL=253 Reply from 192.168.3.10: bytes=32 time=92ms TTL=253 |
Như vậy, sau khi cấu hình static routing trên các router, hai host đã có thể đi đến nhau được.
Cuối cùng, ta bổ sung các địa chỉ mạng còn lại vào bảng định tuyến của các router:
R1(config)#ip route 192.168.23.0 255.255.255.0 f0/1 R3(config)#ip route 192.168.12.0 255.255.255.0 f0/0 |
Bảng định tuyến của các router lúc này đã chứa đầy đủ các địa chỉ mạng trên sơ đồ giống như đã mô tả trên hình 2 ở trên, các router lúc này đã có cái nhìn đầy đủ về sơ đồ mạng mà chúng tham gia:
R1#show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 S 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 C 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 R2#show ip route (…) C 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 S 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 R3#show ip route (…) S 192.168.12.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.23.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 S 192.168.1.0/24 is directly connected, FastEthernet0/0 C 192.168.3.0/24 is directly connected, FastEthernet0/1 |
Lúc này, các host đã đề cập, không chỉ đi đến nhau được mà chúng có thể đi đến được bất kỳ địa chỉ nào trên sơ đồ mạng. Ví dụ:
C:\>ping 192.168.12.1 Pinging 192.168.12.1 with 32 bytes of data: Reply from 192.168.12.1: bytes=32 time=16ms TTL=255 Reply from 192.168.12.1: bytes=32 time=15ms TTL=255 Reply from 192.168.12.1: bytes=32 time=15ms TTL=255 Reply from 192.168.12.1: bytes=32 time=15ms TTL=255 Ping statistics for 192.168.12.1: Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss), Approximate round trip times in milli-seconds: Minimum = 15ms, Maximum = 16ms, Average = 15ms C:\>ping 192.168.12.2 Pinging 192.168.12.2 with 32 bytes of data: Reply from 192.168.12.2: bytes=32 time=49ms TTL=254 Reply from 192.168.12.2: bytes=32 time=60ms TTL=254 Reply from 192.168.12.2: bytes=32 time=46ms TTL=254 Reply from 192.168.12.2: bytes=32 time=45ms TTL=254 Ping statistics for 192.168.12.2: Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss), Approximate round trip times in milli-seconds: Minimum = 45ms, Maximum = 60ms, Average = 50ms C:\>ping 192.168.23.2 Pinging 192.168.23.2 with 32 bytes of data: Reply from 192.168.23.2: bytes=32 time=20ms TTL=254 Reply from 192.168.23.2: bytes=32 time=45ms TTL=254 Reply from 192.168.23.2: bytes=32 time=45ms TTL=254 Reply from 192.168.23.2: bytes=32 time=46ms TTL=254 Ping statistics for 192.168.23.2: Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss), Approximate round trip times in milli-seconds: Minimum = 20ms, Maximum = 46ms, Average = 39ms C:\>ping 192.168.23.3 Pinging 192.168.23.3 with 32 bytes of data: Reply from 192.168.23.3: bytes=32 time=68ms TTL=253 Reply from 192.168.23.3: bytes=32 time=75ms TTL=253 Reply from 192.168.23.3: bytes=32 time=76ms TTL=253 Reply from 192.168.23.3: bytes=32 time=61ms TTL=253 Ping statistics for 192.168.23.3: Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss), Approximate round trip times in milli-seconds: Minimum = 61ms, Maximum = 76ms, Average = 70ms |
Trong cấu hình static routing ở trên, chúng ta đã sử dụng tùy chọn “output – interface”. Bên cạnh tùy chọn này, chúng ta cũng có thể sử dụng tùy chọn “next – hop IP” khi khai báo static route. Next – hop IP chính là địa chỉ IP của router kế tiếp trên chặng đường đi đến mạng đích mà ta đang thiết lập static route.
Ví dụ:
Trên R1, để đi đến mạng 192.168.3.0/24, ta cần phải dẫn các gói tin đi ra khỏi cổng F0/1, đến router kế tiếp tại địa chỉ 192.168.12.2 để router này dẫn đường tiếp. Câu lệnh static routing cho mạng 192.168.3.0/24 trên R1 ở trên có thể được viết lại như sau:
R1(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 192.168.12.2 <- Next-hop IP |
Và như thế, toàn bộ cấu hình static routing trên các router có thể được viết lại như sau:
R1(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 192.168.12.2 R1(config)#ip route 192.168.23.0 255.255.255.0 192.168.12.2 R2(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 192.168.12.1 R2(config)#ip route 192.168.3.0 255.255.255.0 192.168.23.3 R3(config)#ip route 192.168.1.0 255.255.255.0 192.168.23.2 R3(config)#ip route 192.168.12.0 255.255.255.0 192.168.23.2 |
Các dòng thông tin “static” trong bảng định tuyến của các router với cách cấu hình sử dụng tùy chọn “next – hop IP”:
R1#show ip route static S 192.168.23.0/24 [1/0] via 192.168.12.2 S 192.168.3.0/24 [1/0] via 192.168.12.2 R2#show ip route static S 192.168.1.0/24 [1/0] via 192.168.12.1 S 192.168.3.0/24 [1/0] via 192.168.23.3 R3#show ip route static S 192.168.12.0/24 [1/0] via 192.168.23.2 S 192.168.1.0/24 [1/0] via 192.168.23.2 |
Trong câu lệnh “show ip route” lần này, chúng ta sử dụng thêm tùy chọn “static” kèm theo, khi đó, kết quả show sẽ chỉ hiện ra những dòng thông tin được xây dựng bởi kỹ thuật định tuyến tĩnh. Điều này giúp làm gọn kết quả show và chỉ hiển thị những thông tin mà người quản trị cần xem.
Đến đây, chúng ta đã khảo sát xong một ví dụ về sử dụng định tuyến tĩnh. Qua ví dụ này, các bạn học viên có thể nắm được cách thức mà người quản trị bổ sung thông tin và hướng dẫn router cách dẫn đường cho các gói tin IP đi ngang qua chúng.